Tìm kiếm tin tức
Phòng, chống tham nhũng >> Tuyên truyền GDPL về PCTN
Câu hỏi 18: Cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch những nội dung gì? Để tránh trùng lặp với các luật chuyên ngành, Luật PCTN 2018 chỉ quy định khái quát những nội dung mà các cơ quan, tổ chức, đơn vị bắt buộc phải công khai, minh bạch. Nội dung công khai, minh bạch trong từng ngành, lĩnh vực sẽ do luật chuyên ngành quy định cụ thể để đảm bảo phù hợp với đặc điểm của ngành, lĩnh vực đó nhưng phải đảm bảo trên cơ sở các quy định chung này của Luật PCTN. Cụ thể, Điều 10 Luật PCTN 2018 quy định cơ quan, tổ chức, đơn vị phải công khai, minh bạch những nội dung sau đây:  
Câu hỏi 16: Bản kê khai tài sản, thu nhập được quản lý như thế nào? Theo quy định của Luật PCTN năm 2005, bản kê khai tài sản, thu nhập do đơn vị hoặc bộ phận phụ trách công tác tổ chức nhân sự của cơ quan, tổ chức nơi người kê khai công tác quản lý. Đối với người có nghĩa vụ kê khai thuộc diện cấp ủy quản lý thì Ban tổ chức cấp ủy cùng cấp quản lý. Tình trạng quản lý phân tán này được nhận diện là một trong những hạn chế của Luật PCTN năm 2005 dẫn đến tình trạng việc xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai ít được thực hiện trong 10 năm qua. Khắc phục hạn chế này, Luật PCTN năm 2018 đã quy định: Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý bản kê khai và bàn giao 01 bản kê khai cho Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có thẩm quyền (Khoản 1, Khoản 3 Điều 38). Như vậy, bản kê khai vừa được quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người kê khai, vừa được quản lý tập trung tại cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Điều này giúp cho việc theo dõi biến động, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai hiệu quả hơn, qua đó kịp thời xác minh để phát hiện, xử lý tham nhũng.     
Câu hỏi 12: Bản kê khai tài sản, thu nhập được quản lý như thế nào? Theo quy định của Luật PCTN năm 2005, bản kê khai tài sản, thu nhập do đơn vị hoặc bộ phận phụ trách công tác tổ chức nhân sự của cơ quan, tổ chức nơi người kê khai công tác quản lý. Đối với người có nghĩa vụ kê khai thuộc diện cấp ủy quản lý thì Ban tổ chức cấp ủy cùng cấp quản lý. Tình trạng quản lý phân tán này được nhận diện là một trong những hạn chế của Luật hiện hành dẫn đến tình trạng việc xác minh tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai ít được thực hiện trong 10 năm qua. Khắc phục hạn chế này, Luật PCTN năm 2018 đã quy định: Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người có nghĩa vụ kê khai có trách nhiệm tiếp nhận, quản lý bản kê khai và bàn giao 01 bản kê khai cho Cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập có thẩm quyền (Khoản 1, Khoản 3 Điều 38). Như vậy, bản kê khai vừa được quản lý tại cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng người kê khai, vừa được quản lý tập trung tại cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập. Điều này giúp cho việc theo dõi biến động, kiểm soát tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai hiệu quả hơn, qua đó kịp thời xác minh để phát hiện, xử lý tham nhũng.           
Câu hỏi 10: Theo quy định của Luật PCTN năm 2018, những hành vi nào được coi là hành vi tham nhũng? Luật PCTN năm 2018 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh sang khu vực ngoài nhà nước. Do vậy, các hành vi tham nhũng được xác định không chỉ bao gồm những hành vi trong khu vực nhà nước mà còn bao gồm cả một số hành vi trong khu vực ngoài nhà nước. Đây là điểm khác biệt cơ bản so với quy định của  Luật PCTN năm 2005. Theo đó, các hành vi tham nhũng trong khu vực nhà nước cơ bản giữ nguyên như quy định của Luật năm 2005 (gồm 12 hành vi), các hành vi tham nhũng trong khu vực ngoài nhà nước được bổ sung (gồm 04 hành vi) để thống nhất với quy định của Bộ luật Hình sự và khái niệm tham nhũng quy định tại khoản 1 Điều 3. Cụ thể như sau:        
Câu hỏi 9: Thế nào là xung đột lợi ích? Các tình huống xung đột lợi ích theo quy định của Luật PCTN năm 2018? Việc nhận diện và kiểm soát xung đột lợi ích có ý nghĩa rất quan trọng đối với công tác phòng, chống tham nhũng. Các văn bản pháp luật hiện nay chưa đưa ra một khái niệm chính thức về xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích, đặc biệt là trong khu vực nhà nước. Tuy nhiên, một số văn bản luật (trong đó bao gồm cả Luật Cán bộ, công chức, Luật PCTN năm 2005, Luật Đấu thầu, Luật Doanh nghiệp, Luật Kiểm toán, Bộ Luật tố tụng hình sự, Bộ Luật Tố tụng dân sự...) đã ghi nhận một số tình huống cụ thể và một số biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích như tặng, nhận quà, tham gia các hoạt động ngoài hoạt động công vụ, sau khi nghỉ làm việc trong cơ quan nhà nước hay trong hoạt động đấu thầu.... Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng thế giới tại Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về xung đột lợi ích. Kết quả nghiên cứu cho thấy, một số quy định kiểm soát xung đột lợi ích chưa tương đồng hoặc chưa đồng bộ với các quy định pháp luật khác khiến cho việc thực thi kém hiệu quả hoặc nhiều biện pháp kiểm soát xung đột lợi ích theo quy định của pháp luật còn chưa được thực hiện. Kết quả khảo sát cho thấy các tình huống xung đột lợi ích đang diễn ra tương đối phổ biến ở nhiều khâu của quản lý nhà nước và trên nhiều ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, việc kiểm soát xung đột lợi ích và xử lý vi phạm pháp luật về xung đột lợi ích còn khá hạn chế. Do vậy, cần thiết phải quy định xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích trong Luật PCTN. Việc quy định thành một chế định pháp luật về xung đột lợi ích và kiểm soát xung đột lợi ích trong Luật PCTN sẽ đảm bảo sự thống nhất trong cách hiểu, biện pháp áp dụng và tổ chức thực hiện việc kiểm soát, xử lý vi phạm pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích.  
Câu hỏi 7: Tổ chức việc kê khai tài sản, thu nhập được thực hiện như thế nào?    
Câu hỏi 5: Cơ quan nào có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập? Kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là một trong những biện pháp quan trọng trong phòng, chống tham nhũng ở các quốc gia. Luật PCTN năm 2005 quy định cơ quan có thẩm quyền kiểm soát tài sản, thu nhập là cơ quan quản lý trực tiếp người có nghĩa vụ kê khai tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Quy định này dẫn đến quá nhiều cơ quan có chức năng quản lý bản kê khai và xác minh tài sản, thu nhập; cán bộ làm công tác này thực chất là cán bộ làm công tác tổ chức nên thiếu nghiệp vụ, kinh nghiệm về kiểm soát tài sản, thu nhập dẫn đến việc thực hiện còn hình thức, hiệu quả thấp. Tổng kết 10 năm thi hành Luật PCTN năm 2005 cho thấy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng tham nhũng, một trong những nguyên nhân chính là Nhà nước không giám sát, kiểm soát được những biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; thẩm quyền quản lý bản kê khai tài sản, thu nhập còn phân tán và mang tính nội bộ, thiếu cơ chế kiểm soát từ bên ngoài. Để khắc phục những hạn chế này thì việc sửa đổi mô hình cơ quan kiểm soát tài sản, thu nhập là cần thiết.    
Câu hỏi 4: Công tác PCTN được đánh giá trên các tiêu chí nào? Luật PCTN năm 2005 không quy định các tiêu chí đánh giá về công tác PCTN mà hiện nay công tác này được thực hiện trên cơ sở quy định của Thông tư số 04/2014/TT-TTCP ngày 18/9/2014 của Thanh tra Chính phủ quy định về nhận định tình hình tham nhũng và đánh giá công tác phòng, chống tham nhũng. Hằng năm, căn cứ vào chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ xây dựng bộ chỉ số đánh giá công tác PCTN đối với UBND cấp tỉnh và có văn bản hướng dẫn thực hiện (được thí điểm từ năm 2016 đến nay). Tuy nhiên, sau 02 năm thí điểm thực hiện dựa trên bộ chỉ số đánh giá về công tác PCTN, Thanh tra Chính phủ thấy rằng, nhằm đảm bảo tính thống nhất trong nhận định, đánh giá về công tác PCTN, cần thiết phải quy định tiêu chí đánh giá ngay trong Luật PCTN. Vì vậy, Điều 17 Luật PCTN năm 2018 đã quy định các tiêu chí đánh giá về công tác PCTN như sau:  
Câu hỏi 3: Báo cáo về công tác phòng chống tham nhũng được quy định như thế nào trong Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) năm 2018? Cần xác định việc đánh giá, đo lường, báo cáo về thực trạng tham nhũng và công tác phòng, chống là đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Luật PCTN năm 2005 chỉ quy định Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương mà không quy định trách nhiệm của các cơ quan tư pháp, Kiểm toán Nhà nước trong việc phối hợp với Chính phủ xây dựng báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng. Để đảm bảo tính toàn diện, phản ánh đúng tình hình thực hiện công tác PCTN, Luật PCTN năm 2018 đã quy định cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xây dựng báo cáo về tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng: “Chính phủ có trách nhiệm báo cáo Quốc hội về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương; Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước có trách nhiệm phối hợp với Chính phủ trong việc xây dựng báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng trong phạm vi cả nước; Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cùng cấp trong việc xây dựng báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng ở địa phương.” Đồng thời, Luật PCTN năm 2018 cũng quy định Báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng bao gồm các nội dung sau đây:
Nhằm phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, giúp cho cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm được những nội dung cơ bản và những điểm mới của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (viết tắt Luật PCTN), từ tháng 5/2021, hàng tuần, Thanh tra tỉnh đưa ra các câu hỏi - giải đáp để cùng tìm hiểu.      
Các tin khác
Xem tin theo ngày  
Thống kê truy cập
Tổng truy cập 3.132.513
Truy cập hiện tại 87 khách